Người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam

Witnesses in the criminal procedure law of the Russian Federation and implications for Vietnam

Các tác giả

  • ThS Cao Thanh Hùng Tòa án nhân dân Khu vực 4, TP. Hồ Chí Minh

DOI:

https://doi.org/10.70236/khplvn.498

Từ khóa:

người làm chứng, pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga

Tóm tắt

Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam đã có nhiều tiến bộ khi quy định về người làm chứng. Tuy nhiên, các quy định này vẫn còn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật cũng như chưa đảm bảo các quyền của người làm chứng khi tham gia tố tụng. Trong khi đó, Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga lại có hệ thống các quy phạm pháp luật quy định khá toàn diện, đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của người làm chứng. Trong bài viết này, tác giả tập trung phân tích quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Liên bang Nga về người làm chứng, so sánh với Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam và từ đó đưa ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong việc hoàn thiện quy định của Bộ luật này về người làm chứng.

Tải xuống

Dữ liệu tải xuống chưa có sẵn.

Tài liệu tham khảo

[1] Tô Văn Hòa, Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, Nxb. Hồng Đức, 2012 [trans: To Van Hoa, Typical Models of Criminal Procedure in the World, Hong Duc Publishing House, 2012]

[2] Nguyễn Văn Hùng, “Một số vấn đề về người làm chứng và bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự”, Tạp chí Khoa học kiểm sát, số 6, 2016 [trans: Nguyen Van Hung, “Some issues regarding witnesses and the protection of witnesses in criminal proceedings,” Journal of Procuracy Science, No. 6, 2016]

[3] Bùi Đức Hứa, “Chế định bảo vệ người tố giác tội phạm, người làm chứng, bị hại và người tham gia tố tụng khác trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 4(361), 2022 [trans: Bui Duc Hua, “The legal framework for protecting whistleblowers, witnesses, victims, and other participants in criminal proceedings under the 2015 Criminal Procedure Code”, Democracy and Law Journal, No. 4(361), 2022]

[4] A.A. Poddubnyak, “Свидетель как участник уголовного процесса Российской Федерации” (Người làm chứng với tư cách là người tham gia tố tụng hình sự Liên bang Nga), Tạp chí Khoa học V.I. Vernadsky của Đại học Liên bang Crimea, số 2, 2015 [trans: A.A. Poddubnyak, The Witness as a Participant in Criminal Proceedings of the Russian Federation, V.I. Vernadsky Crimean Federal University Scientific Journal, No. 2, 2015]

[5] Nguyễn Phạm Xuân Thy, Bảo vệ người làm chứng trong tố tụng hình sự: Nghiên cứu so sánh và kinh nghiệm cho Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, 2022 [trans: Nguyen Pham Xuan Thy, Protection of witnesses in criminal proceedings: A comparative study and lessons for Viet Nam, Master’s thesis, Ho Chi Minh City University of Law, 2022]

[6] Hà Ngọc Quỳnh Anh, Người làm chứng trong trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh, 2013 [trans: Ha Ngoc Quynh Anh, Witnesses in Vietnamese criminal procedure, Master’s thesis, Ho Chi Minh City University of Law, 2013]

[7] Hoàng Đình Dũng, Nguyễn Văn Linh, “Hoàn thiện quy định của pháp luật về bảo vệ người làm chứng”, Tạp chí Toà án nhân dân điện tử, 2021 [trans: Hoang Dinh Dung, Nguyen Van Linh, “Improving the legal provisions on witness protection”, Online Journal of the People’s court, 2021]

Các tệp bổ sung

Đã Xuất bản

25-01-2026

Số

Chuyên mục

LUẬT HÌNH SỰ

Cách trích dẫn

Cao ThanH, H. (2026). Người làm chứng trong pháp luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam: Witnesses in the criminal procedure law of the Russian Federation and implications for Vietnam. Tạp Chí Khoa học Pháp Lý Việt Nam, 01(197), 54-64. https://doi.org/10.70236/khplvn.498